NgoaiKieu.comNgoại Kiều
Kết hôn và gia đình đa quốc tịch

Ly hôn với người nước ngoài tại Việt Nam: thuận tình, đơn phương, nuôi con và giấy tờ

Luật nào áp dụng, toà án nào giải quyết, khác biệt giữa thuận tình và đơn phương khi bạn đời ở nước ngoài, quyền nuôi con, tài sản và giấy tờ cư trú sau ly hôn.

A woman walking hand in hand with a young child along a quiet tree-lined street at dusk, seen from behind, muted colors

Ly hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài được giải quyết tại toà án Việt Nam theo luật Việt Nam khi việc ly hôn được yêu cầu ở Việt Nam, theo nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Hai người có thể thuận tình ly hôn nếu thoả thuận được mọi việc, hoặc một bên yêu cầu ly hôn đơn phương. Điểm khó riêng của hôn nhân có yếu tố nước ngoài là bên kia thường đang ở nước ngoài, nên việc gửi giấy tờ của toà cho họ có thể kéo dài rất lâu.

Bài này nói phần nguyên lý: luật nào áp dụng, toà nào thụ lý, nuôi con ra sao, tài sản và giấy tờ cư trú sau ly hôn. Mỗi vụ việc có chi tiết riêng, nhất là khi có con hoặc tài sản ở hai nước; nên nhờ luật sư xem hồ sơ trước khi nộp đơn.

Luật nào áp dụng, toà nào giải quyết

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, cũng như giữa những người nước ngoài thường trú ở Việt Nam, được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo pháp luật Việt Nam. Nếu vào thời điểm yêu cầu ly hôn, bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam, việc ly hôn theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; không có nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam.

Riêng bất động sản ở nước ngoài, việc giải quyết khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó. Đây là lý do một vụ ly hôn có thể phải đi qua hai hệ thống pháp luật nếu gia đình có nhà đất ở cả hai nước.

Về toà án, vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài do toà án nhân dân giải quyết theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Hệ thống toà án được tổ chức lại năm 2025 cùng với việc sắp xếp đơn vị hành chính, nên trước khi nộp đơn hãy hỏi toà án nơi bị đơn cư trú hoặc nơi mình cư trú, hoặc hỏi luật sư, xem toà nào đang thụ lý loại vụ việc này ở địa phương mình.

Nếu hai người đã ly hôn ở nước ngoài bằng bản án hoặc quyết định của toà án hay cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, người Việt làm thủ tục ghi chú ly hôn vào sổ hộ tịch Việt Nam. Không ghi chú thì trên giấy tờ Việt Nam người đó vẫn đang có vợ hoặc chồng, sẽ vướng khi tái hôn hoặc khi làm giấy tờ nhà đất.

Thuận tình hay đơn phương: khác nhau ở đâu

Hai con đường có điều kiện và độ dài rất khác nhau, nhất là khi một bên đang ở nước ngoài.

Điểm so sánhThuận tình ly hônLy hôn đơn phương
Điều kiệnCả hai thật sự tự nguyện ly hôn và thoả thuận được việc chia tài sản, nuôi con, cấp dưỡngMột bên yêu cầu; toà xét có căn cứ như bạo lực gia đình, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng
Hình thứcViệc dân sự, toà công nhận thuận tình ly hônVụ án dân sự, có hoà giải và xét xử
Khi một bên ở nước ngoàiBên ở nước ngoài vẫn phải thể hiện ý chí theo cách toà chấp nhận; có thể gửi văn bản có chứng thực, hợp pháp hoáToà phải tống đạt giấy tờ cho bị đơn ở nước ngoài, thường qua kênh tương trợ tư pháp
Thời gianThường ngắn hơn nếu giấy tờ đủThường kéo dài, có khi nhiều tháng đến hơn một năm vì khâu tống đạt
Trường hợp bị đơn bặt tinKhông áp dụngCó thể phải làm thủ tục tuyên bố mất tích hoặc theo hướng dẫn riêng của toà

Nếu bên nước ngoài đồng ý ly hôn nhưng không thể sang Việt Nam, nên hỏi toà ngay từ đầu về cách họ chấp nhận ý chí và chữ ký từ xa. Làm đúng từ đầu tiết kiệm nhiều tháng chờ.

Khi bên kia đã về nước hoặc không liên lạc được

Tình huống phổ biến: người chồng hoặc vợ nước ngoài đã về nước nhiều năm, không còn liên lạc, người Việt ở lại một mình với con và muốn chấm dứt hôn nhân để làm lại cuộc sống. Đây là vụ ly hôn đơn phương mà bị đơn ở nước ngoài, và khâu khó nhất là toà phải gửi được giấy tờ cho người đó theo đúng thủ tục.

Việc gửi giấy tờ tố tụng ra nước ngoài thường đi qua kênh tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và nước đó, hoặc qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, hoặc qua bưu chính theo điều kiện luật cho phép. Mỗi kênh mất thời gian khác nhau và phụ thuộc vào việc có địa chỉ chính xác của bị đơn hay không. Người Việt nên gom mọi thông tin còn giữ được: địa chỉ cuối cùng, nơi làm việc, email, tên người thân của bên kia.

Nếu không còn bất kỳ địa chỉ nào và đã bặt tin lâu, có thể phải đi theo hướng yêu cầu toà tuyên bố người đó mất tích theo Bộ luật Dân sự 2015, rồi trên cơ sở đó yêu cầu ly hôn. Thủ tục này đòi thời gian biệt tích nhất định và việc thông báo tìm kiếm. Nên nhờ luật sư đánh giá hướng nào phù hợp với hồ sơ cụ thể.

Một sai lầm nên tránh: khai bị đơn không rõ địa chỉ trong khi thật ra vẫn biết cách liên lạc, để rút ngắn thủ tục. Bản án ra trong hoàn cảnh đó có thể bị huỷ về sau khi bị đơn chứng minh mình không được thông báo, và mọi việc phải làm lại.

Nuôi con sau ly hôn: nguyên tắc của luật Việt Nam

Thoả thuận trước, toà quyết sau. Vợ chồng thoả thuận ai trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ và quyền của mỗi bên. Không thoả thuận được thì toà quyết định giao con cho một bên dựa vào quyền lợi về mọi mặt của con.

Con từ đủ bảy tuổi được hỏi ý kiến. Nếu con từ đủ bảy tuổi trở lên, toà phải xem xét nguyện vọng của con khi quyết định giao con cho ai.

Con dưới 36 tháng tuổi. Luật quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ khi người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thoả thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Cấp dưỡng và thăm nom. Bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng và có quyền thăm nom con; bên trực tiếp nuôi không được cản trở. Khi bên cấp dưỡng ở nước ngoài, việc buộc thi hành rất khó nếu họ không tự nguyện, nên thoả thuận rõ cách chuyển tiền ngay trong quyết định của toà.

Đưa con ra nước ngoài. Khi cha mẹ ở hai nước, câu hỏi con có được đưa sang nước kia sống hay thăm không là điểm hay tranh chấp nhất. Nên thoả thuận cụ thể trong quyết định: con đi thăm bao lâu, ai giữ hộ chiếu, cần đồng ý bằng văn bản thế nào. Đòi lại con đã bị đưa đi trái thoả thuận là việc rất khó và phụ thuộc pháp luật nước đó.

Tài sản: chung, riêng và tài sản ở hai nước

Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nếu vợ chồng không có thoả thuận về chế độ tài sản, tài sản chung về nguyên tắc chia đôi nhưng có tính đến hoàn cảnh của mỗi bên, công sức đóng góp, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền và nghĩa vụ vợ chồng, và việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh. Tài sản riêng của ai vẫn là của người đó.

Với gia đình đa quốc tịch, nhà đất ở Việt Nam thường đứng tên người Việt vì người nước ngoài bị hạn chế quyền sử dụng đất. Điều đó không tự động biến nhà đất thành tài sản riêng của người Việt. Nếu được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân bằng tiền chung, đó có thể là tài sản chung về giá trị, và bên nước ngoài có thể được chia phần giá trị thay vì được chia hiện vật.

Tài sản ở nước ngoài như tài khoản, nhà cửa, quỹ hưu trí được giải quyết theo những quy tắc riêng; bất động sản ở nước ngoài theo luật nước nơi có bất động sản. Bản án Việt Nam chia tài sản ở nước kia chỉ thi hành được ở nước đó khi được nước đó công nhận. Vì vậy những gia đình có tài sản lớn ở hai nước rất nên có luật sư ở cả hai nơi.

Gom giấy tờ trước khi nộp đơn

Hồ sơ ly hôn có yếu tố nước ngoài thường chậm vì thiếu giấy, không phải vì toà chậm. Trước khi gặp luật sư hoặc nộp đơn, nên gom sẵn:

  • Bản chính giấy chứng nhận kết hôn; nếu kết hôn ở nước ngoài thì giấy kết hôn nước ngoài kèm trích lục ghi chú kết hôn ở Việt Nam.
  • Giấy tờ tuỳ thân của mình và bản chụp hộ chiếu, giấy tờ cư trú của bạn đời nếu còn giữ.
  • Giấy khai sinh của các con, giấy tờ quốc tịch, hộ chiếu của con.
  • Giấy tờ tài sản: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán, sổ tiết kiệm, đăng ký xe, giấy tờ doanh nghiệp, thông tin tài khoản ở nước ngoài nếu biết.
  • Mọi thông tin liên lạc còn có về bạn đời: địa chỉ ở nước ngoài, nơi làm, thư từ, email; càng chính xác càng giúp khâu tống đạt nhanh.
  • Chứng cứ liên quan đến căn cứ ly hôn hoặc việc nuôi con nếu có tranh chấp, như biên bản, giấy tờ y tế, tin nhắn.

Giấy tờ bằng tiếng nước ngoài muốn dùng làm chứng cứ thường phải dịch sang tiếng Việt có chứng thực, giấy do nước ngoài cấp còn phải hợp pháp hoá trừ khi được miễn. Tính trước thời gian cho khâu này.

Sau ly hôn: giấy tờ cư trú và việc ghi nhận ở nước kia

Người nước ngoài đang ở Việt Nam bằng thị thực hoặc thẻ tạm trú diện thân nhân do vợ hoặc chồng Việt bảo lãnh sẽ mất căn cứ cư trú khi hôn nhân chấm dứt. Họ cần chuyển sang diện khác nếu đủ điều kiện, ví dụ diện lao động nếu có giấy phép lao động, hoặc diện thân nhân của con là công dân Việt Nam theo quy định, hoặc rời Việt Nam đúng hạn.

Người Việt từng đứng tên bảo lãnh cũng có trách nhiệm thông báo với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh khi quan hệ bảo lãnh không còn. Đây là việc nhỏ nhưng nhiều người quên, và có thể khiến người bảo lãnh bị hỏi trách nhiệm nếu bên kia ở lại quá hạn.

Bản án ly hôn Việt Nam cũng thường cần được ghi nhận ở nước bạn đời cũ để người đó tái hôn được ở nước mình. Việc này do phía họ làm theo luật nước họ, có thể cần bản án đã có hiệu lực, dịch và hợp pháp hoá. Người Việt nên giữ vài bản trích lục bản án, vì về sau con cái làm giấy tờ ở nước kia cũng có thể cần đến.

Câu hỏi thường gặp

Bạn đời người nước ngoài không đồng ý ly hôn thì có ly hôn được không?

Được, nếu toà xét thấy có căn cứ ly hôn đơn phương theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, như có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ vợ chồng làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không kéo dài được. Thủ tục sẽ lâu hơn thuận tình, nhất là khi bên kia ở nước ngoài.

Ly hôn ở toà nước ngoài rồi có cần làm gì ở Việt Nam không?

Người Việt cần làm ghi chú ly hôn vào sổ hộ tịch Việt Nam, nộp bản án hoặc quyết định ly hôn đã có hiệu lực, đã hợp pháp hoá và dịch. Không ghi chú thì trên giấy tờ Việt Nam vẫn đang kết hôn, sẽ không đăng ký kết hôn mới được.

Con mang quốc tịch nước ngoài thì toà Việt Nam có quyết định việc nuôi con không?

Khi toà Việt Nam giải quyết ly hôn, toà quyết định cả việc nuôi con chung dựa trên quyền lợi của con, dù con mang quốc tịch nào. Nhưng việc thi hành ở nước khác, nhất là khi con đang ở nước đó, phụ thuộc vào việc nước đó có công nhận bản án Việt Nam hay không.

Có thể yêu cầu cấp dưỡng một lần thay vì hằng tháng không?

Luật cho phép các bên thoả thuận phương thức cấp dưỡng định kỳ hoặc một lần. Khi người cấp dưỡng sống ở nước ngoài, cấp dưỡng một lần thường được cân nhắc vì việc buộc thi hành định kỳ xuyên biên giới khó khăn. Toà xem xét theo khả năng của người cấp dưỡng và nhu cầu của con.

Người nước ngoài sau ly hôn có được ở lại Việt Nam để gần con không?

Có thể, nếu đủ điều kiện xin giấy tờ cư trú theo diện khác, chẳng hạn diện thân nhân của con là công dân Việt Nam theo quy định hiện hành, hoặc diện lao động, đầu tư. Cần hỏi cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trước khi giấy tờ hiện tại hết căn cứ.

Có phải chia nhà đất đứng tên người Việt cho người nước ngoài khi ly hôn không?

Nếu nhà đất là tài sản chung tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, bên nước ngoài có thể được chia phần giá trị, thường bằng tiền, vì họ bị hạn chế quyền sử dụng đất. Nếu đó là tài sản riêng có trước hôn nhân hoặc được tặng cho riêng, có giấy tờ chứng minh, thì vẫn là của người Việt.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.