Không có một con số chính thức duy nhất cho "số người nước ngoài sống ở Việt Nam". Mỗi cơ quan đếm một thứ khác nhau — lượt khách đến, giấy phép lao động còn hạn, thẻ tạm trú đã cấp, lượt khai báo tạm trú — nên các con số trên báo thường vênh nhau rất xa. Con số lớn nhất và được công bố đều đặn nhất là lượt khách quốc tế: theo Tổng cục Thống kê, khoảng 18 triệu lượt năm 2019 và khoảng 17,5 triệu lượt năm 2024. Nhưng đó là lượt đến, phần lớn là khách ngắn ngày, không phải số người đang sống ở đây.
Bài này giải thích từng loại số đếm cái gì, vì sao không cộng chúng lại được, người nước ngoài sống dài hạn tập trung ở đâu, và năm câu hỏi nên đặt ra mỗi khi gặp một con số về người nước ngoài ở Việt Nam.
Mỗi nguồn đếm một thứ
Các nguồn số liệu dưới đây đều có thật và đều đúng với cái chúng đếm. Vấn đề chỉ xảy ra khi người đọc dùng con số của nguồn này để trả lời câu hỏi của nguồn khác.
| Nguồn | Đếm cái gì | Không cho biết điều gì |
|---|---|---|
| Lượt khách quốc tế (cơ quan thống kê) | Số lần người nước ngoài nhập cảnh trong năm | Một người vào nhiều lần bị đếm nhiều lần; không phân biệt ai sống, ai chỉ ghé |
| Giấy phép lao động (cơ quan quản lý lao động) | Số người nước ngoài được cấp phép làm việc | Người thuộc diện miễn giấy phép, thân nhân đi theo, người không đi làm |
| Thẻ tạm trú, thẻ thường trú (cơ quan xuất nhập cảnh) | Số người có giấy cư trú dài hạn | Người ở dài nhưng bằng nhiều thị thực ngắn nối nhau |
| Khai báo tạm trú | Số lượt người nước ngoài được khai ở một nơi ở | Một người chuyển chỗ nhiều lần bị đếm nhiều lần |
| Kết hôn có yếu tố nước ngoài (ngành tư pháp) | Số cuộc kết hôn được đăng ký ở Việt Nam | Phần lớn các cặp đăng ký ở Việt Nam rồi sống ở nước ngoài |
| Du học sinh (ngành giáo dục) | Số người nước ngoài đang học ở cơ sở giáo dục | Thường tính theo năm học, có khi gộp cả khoá ngắn hạn |
Đọc bảng này, dễ thấy vì sao một bài báo có thể viết "Việt Nam có hàng triệu người nước ngoài" trong khi một bài khác viết "chỉ khoảng vài chục nghìn". Cả hai có thể dẫn nguồn đúng, chỉ là đang nói về hai thứ khác nhau.
Lượt và người: lỗi đọc số phổ biến nhất
Một doanh nhân sống ở TP.HCM, mỗi tháng bay sang Singapore họp rồi về, trong một năm tạo ra mười hai lượt nhập cảnh. Một gia đình bốn người đi du lịch Phú Quốc (nay là đặc khu thuộc An Giang) một tuần tạo ra bốn lượt. Trong số liệu lượt khách, doanh nhân kia "nặng" gấp ba gia đình nọ, dù ông chỉ là một người.
Vì vậy, lượt khách quốc tế là con số tốt để đo du lịch, hàng không, khách sạn, nhưng là con số tồi để đo cộng đồng ngoại kiều. Khi ai đó viết "mỗi năm có mười mấy triệu người nước ngoài đến Việt Nam", câu đúng hơn là "mười mấy triệu lượt".
Phân biệt thứ hai là dòng và tồn. Số giấy phép lao động cấp trong năm là dòng (bao nhiêu giấy mới ra); số giấy phép còn hiệu lực vào một ngày là tồn (bao nhiêu người đang được phép làm). Một người gia hạn giấy phép hai lần trong ba năm có thể xuất hiện trong số liệu dòng ba lần. Muốn biết "bây giờ có bao nhiêu chuyên gia nước ngoài", cần số tồn, và số tồn thường ít được công bố hơn số dòng.
Phân biệt thứ ba là thời điểm. Giai đoạn 2020–2021, khi biên giới đóng vì đại dịch, mọi con số về người nước ngoài ở Việt Nam đều tụt mạnh; so một con số năm 2021 với một con số năm 2019 rồi kết luận về "xu hướng" là so hai thế giới khác nhau.
Người nước ngoài sống dài hạn tập trung ở đâu
Không cần con số chính xác vẫn có thể vẽ được bản đồ khá đúng về nơi ngoại kiều sống, vì nó bám theo việc làm, trường học và nhà ở.
Ở phía Bắc, các tỉnh có nhiều khu công nghiệp lớn là nơi tập trung chuyên gia và lao động kỹ thuật nước ngoài: Bắc Ninh (gồm cả Bắc Giang cũ), Hải Phòng (gồm cả Hải Dương cũ), Hà Nội, Thái Nguyên, Phú Thọ (gồm cả Vĩnh Phúc cũ). Hà Nội còn có thêm nhóm làm việc ở cơ quan đại diện, tổ chức quốc tế, văn phòng doanh nghiệp, cùng du học sinh.
Ở phía Nam, TP.HCM sau sắp xếp năm 2025 (gồm cả Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu cũ) là nơi đông ngoại kiều nhất cả nước, trải từ văn phòng ở trung tâm, khu dân cư có nhiều gia đình nước ngoài, đến nhà máy ở các khu công nghiệp vùng ven. Đồng Nai (gồm cả Bình Phước cũ) cũng có cộng đồng chuyên gia đông gắn với các khu công nghiệp lâu năm.
Ở miền Trung và Tây Nguyên, Đà Nẵng (gồm cả Quảng Nam cũ, trong đó có Hội An) thu hút người làm việc từ xa, người nghỉ hưu, giáo viên ngoại ngữ, người làm du lịch. Khánh Hoà với Nha Trang, Lâm Đồng với Đà Lạt và Phan Thiết cũng có những nhóm nhỏ nhưng ổn định. Ở đồng bằng sông Cửu Long, người nước ngoài thường đến qua đường hôn nhân, giáo dục và các dự án nông nghiệp, năng lượng, phân tán hơn.
Bức tranh này giúp người Việt bên cạnh hình dung: một chủ nhà ở Thủ Đức hay ở phường trung tâm Đà Nẵng gặp khách thuê nước ngoài là chuyện thường; một chủ nhà ở thị trấn nhỏ miền Tây gặp khách thuê nước ngoài thì hiếm hơn, và cũng dễ lúng túng về thủ tục khai báo hơn.
Năm câu hỏi trước khi tin một con số
Mỗi khi gặp một con số về người nước ngoài ở Việt Nam — trên báo, trong báo cáo, trong lời quảng cáo dịch vụ — hãy đi qua năm câu hỏi sau:
- Đếm cái gì? Lượt hay người; giấy phép, thẻ hay khai báo; cấp mới hay còn hiệu lực.
- Ai công bố? Cơ quan thống kê, cơ quan quản lý chuyên ngành, hay một doanh nghiệp tự ước tính để quảng bá. Số do doanh nghiệp tự ước thường không ghi cách tính.
- Năm nào? Số liệu trước 2020, trong 2020–2021 và sau 2022 thuộc ba bối cảnh rất khác nhau.
- Phạm vi nào? Cả nước, một tỉnh hay một khu công nghiệp. Sau sắp xếp năm 2025, số liệu "tỉnh" cũ và "tỉnh" mới không còn so thẳng được với nhau.
- Làm tròn đến đâu? Một con số làm tròn đến hàng trăm nghìn mà được dẫn lại như số chính xác là dấu hiệu nó đã đi qua nhiều tay.
Năm câu hỏi này không chỉ dùng cho người nước ngoài; chúng dùng được cho bất kỳ con số xã hội nào. Nhưng với chủ đề ngoại kiều, nơi con số hay bị dùng để gây ấn tượng, chúng đặc biệt hữu ích.
Vì sao số người nước ngoài thay đổi theo từng giai đoạn
Các con số về ngoại kiều lên xuống theo những mốc chính sách và kinh tế khá rõ. Biết các mốc này giúp đọc một chuỗi số liệu nhiều năm mà không kết luận vội:
- Sau 1986 và đầu thập niên 1990: Đổi mới mở cửa cho đầu tư nước ngoài; những văn phòng đại diện, liên doanh đầu tiên đưa tới một lớp chuyên gia, nhà quản lý nước ngoài sống ở Hà Nội và TP.HCM, ban đầu còn rất ít.
- Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007: vốn nước ngoài vào sản xuất tăng mạnh, các khu công nghiệp lớn ở phía Bắc và phía Nam kéo theo nhiều kỹ sư, quản lý nước ngoài sống quanh nhà máy.
- Thập niên 2010: các tập đoàn điện tử, dệt may, da giày mở rộng nhà máy; cùng lúc, du lịch tăng nhanh và nhóm người làm việc từ xa, người nghỉ hưu bắt đầu xuất hiện rõ ở các thành phố biển.
- 2020–2021: biên giới gần như đóng vì đại dịch; nhiều chuyên gia về nước, một số kẹt lại ở Việt Nam; mọi chuỗi số liệu đều có một vết lõm sâu ở hai năm này.
- Từ tháng 8/2023: luật sửa đổi năm 2023 mở thị thực điện tử cho công dân mọi nước với thời hạn dài hơn trước, đồng thời kéo dài thời gian tạm trú cho khách được miễn thị thực đơn phương; số lượt khách tăng nhanh trở lại.
- Từ tháng 7/2025: sắp xếp lại còn 34 tỉnh, thành phố; số liệu theo địa phương từ đây được tính theo ranh giới mới, không nối thẳng được với chuỗi cũ.
Mỗi mốc trên thay đổi không chỉ số lượng mà cả thành phần ngoại kiều: giai đoạn đầu chủ yếu là chuyên gia đi một mình, về sau có thêm gia đình, du học sinh, người nghỉ hưu, người làm việc từ xa. Một con số tổng tăng hay giảm vì vậy có thể che đi những thay đổi rất khác nhau bên trong.
Những gì các con số không nói
Ngay cả khi có con số đúng, nó vẫn không cho biết điều quan trọng nhất với người sống bên cạnh: người nước ngoài đó là ai, đang ở theo diện gì, có gia đình không, và cần gì. Hai nghìn chuyên gia ở một khu công nghiệp và hai nghìn người nghỉ hưu ở một thành phố biển là hai cộng đồng khác hẳn nhau về nhu cầu nhà ở, y tế, trường học, giấy tờ.
Con số cũng không nói gì về tính cách hay hành vi của một nhóm quốc tịch nào. Việc một nhóm đông hơn ở một nơi chỉ phản ánh dòng đầu tư, đường bay, quan hệ kinh tế, chính sách thị thực tại thời điểm đó. Dùng số liệu để gán nhận xét cho cả một cộng đồng là đọc số sai cách.
Có những người nước ngoài gần như vô hình trong mọi bảng số: người vợ nước ngoài sống ở một xã ven biển nhiều năm bằng thẻ tạm trú thăm thân, không đi làm, không đi học; đứa trẻ hai quốc tịch về ở với ông bà bằng hộ chiếu Việt Nam nên được đếm như công dân; người làm việc từ xa nối nhiều thị thực điện tử. Họ là một phần thật của cộng đồng ngoại kiều, nhưng chỉ hiện ra khi nhìn vào từng gia đình, từng khu phố.
Với doanh nghiệp, chủ nhà và gia đình, con số tổng chỉ là bối cảnh. Việc cần làm vẫn là hiểu đúng người trước mặt: giấy tờ của họ là gì, hạn đến khi nào, ai là người bảo lãnh, ai là người khai báo tạm trú.
Câu hỏi thường gặp
Năm 2024 Việt Nam đón bao nhiêu khách quốc tế?
Theo số liệu Tổng cục Thống kê công bố, Việt Nam đón khoảng 17,5 triệu lượt khách quốc tế năm 2024, gần bằng mức trước đại dịch là khoảng 18 triệu lượt năm 2019. Đây là số lượt nhập cảnh, không phải số người sống ở Việt Nam, và phần lớn là khách du lịch, công tác ngắn ngày.
Có bao nhiêu lao động nước ngoài đang làm việc ở Việt Nam?
Cơ quan quản lý lao động có số liệu về giấy phép lao động được cấp và còn hiệu lực, thường được nhắc ở mức khoảng một trăm nghìn người trong các báo cáo những năm gần đây. Con số này chưa gồm người thuộc diện miễn giấy phép. Khi trích dẫn, nên ghi rõ năm và cơ quan công bố.
Vì sao không có thống kê chính xác số ngoại kiều?
Vì không có một sổ đăng ký chung cho mọi người nước ngoài cư trú. Mỗi cơ quan quản lý một loại giấy: giấy phép lao động, thẻ tạm trú, khai báo tạm trú, đăng ký kết hôn. Một người có thể xuất hiện ở nhiều nguồn, hoặc không xuất hiện ở nguồn nào nếu ở bằng thị thực ngắn hạn nối tiếp.
Tỉnh nào có nhiều người nước ngoài sống nhất?
TP.HCM sau sắp xếp năm 2025 và Hà Nội là hai nơi đông người nước ngoài sống dài hạn nhất, tiếp theo là các tỉnh có nhiều khu công nghiệp như Bắc Ninh, Hải Phòng, Đồng Nai. Đà Nẵng, Khánh Hoà, Lâm Đồng có cộng đồng nhỏ hơn gắn với du lịch, nghỉ hưu và làm việc từ xa.
Số liệu tỉnh cũ có so được với tỉnh mới sau 7/2025 không?
Không so thẳng được. Từ 1/7/2025 cả nước còn 34 tỉnh, thành phố; nhiều tỉnh mới gồm hai hoặc ba tỉnh cũ. Muốn so, cần cộng số liệu các tỉnh cũ lại theo đúng ranh giới mới, và vẫn phải lưu ý những thay đổi ở cấp xã có thể làm lệch một phần.
Nên trích dẫn số người nước ngoài thế nào trong báo cáo, bài viết?
Ghi rõ đó là số gì (lượt, giấy phép, thẻ), năm nào, cơ quan nào công bố, và dùng chữ "khoảng" khi số đã làm tròn. Tránh cộng các nguồn khác nhau thành một con số tổng, và tránh dùng số lượt khách để nói về cộng đồng sống dài hạn.