Với gia đình có cha hoặc mẹ là người nước ngoài, tên của con nên được chọn sao cho viết giống hệt nhau trên giấy khai sinh Việt Nam và trên giấy tờ của nước bên kia: cùng chữ cái, cùng thứ tự, cùng số thành phần. Theo Bộ luật Dân sự 2015, họ của con là họ cha hoặc họ mẹ theo thoả thuận; tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc ngôn ngữ của một dân tộc ở Việt Nam, không quá dài, khó dùng.
Khó ở chỗ hai nước có hai bộ quy tắc khác nhau về họ, tên đệm, bộ chữ được dùng và thứ tự viết. Một cái tên đẹp nhưng bị hệ thống bên kia cắt mất dấu, đảo họ lên sau, bỏ tên đệm, sẽ đi theo con thành rắc rối giấy tờ cả đời. Bài này đi qua từng chỗ cần chốt trước ngày đi khai sinh.
Luật Việt Nam cho phép gì
Bộ luật Dân sự 2015 quy định họ của cá nhân được xác định theo họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thoả thuận của cha mẹ; không thoả thuận được thì theo tập quán. Như vậy con của mẹ Việt và cha nước ngoài có thể mang họ Việt của mẹ, và con của cha Việt, mẹ nước ngoài có thể mang họ của mẹ nếu hai người đồng ý. Không có quy định bắt buộc theo họ cha.
Về tên, luật đặt nguyên tắc tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc ngôn ngữ khác của dân tộc ở Việt Nam, không đặt tên bằng số, bằng một ký tự không phải chữ, không quá dài và khó sử dụng, không vi phạm quyền, lợi ích của người khác và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Với con chọn quốc tịch Việt Nam, đây là khung mà cán bộ hộ tịch dựa vào.
Thực tế, nhiều cặp muốn con có một phần tên từ bên nước ngoài, như họ của cha hoặc một tên gọi quen thuộc ở nước kia. Họ của cha người nước ngoài, viết theo chữ cái Latinh, thường được ghi nhận vì đó là họ thật của cha đẻ. Phần tên riêng bằng tiếng nước ngoài thì tuỳ cách hiểu và hướng dẫn của từng nơi; với con chọn quốc tịch nước ngoài, cơ quan hộ tịch thường linh hoạt hơn. Hỏi cán bộ trước khi chốt, mang theo vài phương án.
Nếu con chọn quốc tịch nước ngoài, luật nước đó có thể đặt ra quy tắc riêng về tên, và cơ quan hộ tịch Việt Nam thường ghi theo cách thể hiện trên giấy tờ của nước đó. Vì vậy thứ tự hợp lý là hỏi cơ quan đại diện nước bên kia về quy tắc đặt tên của họ trước, rồi mới mang phương án đến phường, xã.
Quy tắc của nước bên kia: những kiểu khác biệt hay gặp
Bộ chữ được phép dùng. Có nước chỉ cho đặt tên bằng các chữ nằm trong một danh sách quy định, hoặc chỉ nhận chữ cái không dấu. Tên tiếng Việt có dấu khi sang nước đó sẽ bị viết lại không dấu, thậm chí phải phiên âm sang hệ chữ khác.
Họ kép. Có nước dùng hai họ, họ cha và họ mẹ, theo thứ tự cố định. Đứa trẻ có thể mang hai họ ở nước đó nhưng chỉ một họ ở Việt Nam, nếu không tính trước.
Chọn họ từ lúc đăng ký kết hôn. Có nước yêu cầu vợ chồng chọn họ cho con chung ngay từ khi đăng ký kết hôn hoặc khi sinh con đầu, và các con sau phải theo cùng họ. Lựa chọn lúc đó ràng buộc cả các con về sau.
Tên đệm. Tên đệm tiếng Việt như Thị, Văn, Ngọc, Minh có thể bị hệ thống nước ngoài hiểu là middle name, hoặc gộp vào tên, hoặc bỏ đi. Ngược lại, middle name của bên nước ngoài có thể bị cán bộ Việt Nam ghi thành tên đệm.
Giới hạn độ dài và số thành phần. Có hệ thống chỉ có hai ô: họ và tên. Tên bốn, năm thành phần sẽ bị dồn hoặc cắt. Giấy tờ đi lại quốc tế cũng có giới hạn ký tự ở dòng đọc máy.
Dấu tiếng Việt trên hộ chiếu và hệ thống nước ngoài
Hộ chiếu, kể cả hộ chiếu Việt Nam, có dòng đọc máy ở cuối trang thông tin chỉ dùng chữ cái Latinh in hoa không dấu. Nguyễn thành NGUYEN, Đặng thành DANG, Thư thành THU. Phần tên in phía trên có thể có dấu hay không tuỳ nước cấp. Hệ thống vé máy bay, ngân hàng, bảo hiểm nước ngoài gần như luôn dùng bản không dấu.
Hệ quả là một đứa trẻ tên Trần Thị Bảo Ngọc có thể xuất hiện ở năm dạng trên năm giấy khác nhau: có dấu đủ, không dấu, đảo họ ra sau, bỏ tên đệm, gộp Bảo Ngọc thành Baongoc. Mỗi lần làm thủ tục, gia đình lại phải giải thích các dạng đó là một người.
Cách giảm rắc rối là chọn tên mà bản không dấu vẫn rõ và không trùng nghĩa xấu ở ngôn ngữ kia. Chữ Đ là trường hợp đặc biệt: bản không dấu thường viết D, nhưng một số hệ thống viết DJ hoặc DH. Tên có Đ ở đầu như Đức, Đông, Đào nên được thống nhất trước một cách viết không dấu dùng xuyên suốt.
Một lưu ý về nghĩa: tên tiếng Việt khi bỏ dấu có thể trùng với một từ có nghĩa khác trong tiếng nước kia, có khi gây cười hoặc khó chịu cho con khi đi học ở đó. Bên nước ngoài trong gia đình là người kiểm tốt nhất: đọc to tên không dấu theo cách người nước mình đọc, nghe xem có vướng gì không.
Họ của chính người mẹ: chi tiết hay bị quên
Phụ nữ Việt Nam không đổi họ khi lấy chồng; trên mọi giấy tờ Việt Nam, người mẹ vẫn mang họ của mình. Ở một số nước khác, vợ có thể hoặc thường lấy họ chồng sau khi kết hôn, và việc này được ghi vào sổ hộ tịch của nước đó.
Khi người mẹ Việt đăng ký hôn nhân ở nước chồng và chọn mang họ chồng theo luật nước ấy, tên của chị trên giấy tờ nước ngoài sẽ khác tên trên hộ chiếu Việt Nam. Đến lúc khai sinh hoặc báo sinh cho con ở nước kia, phần tên mẹ trên giấy của con có thể là tên theo họ chồng, còn trên giấy khai sinh Việt Nam là tên theo họ gốc. Hai giấy của cùng một đứa trẻ ghi tên mẹ khác nhau.
Điều này không sai luật, nhưng mỗi lần làm thủ tục cho con ở một trong hai nước, gia đình phải mang thêm giấy chứng nhận kết hôn để chứng minh hai tên là một người mẹ. Nếu chưa đổi họ, người mẹ nên cân nhắc kỹ trước khi đổi; nếu đã đổi, giữ sẵn bản giấy chứng nhận kết hôn đã dịch và hợp pháp hoá trong bộ giấy tờ của con.
Điều tương tự xảy ra với người cha nước ngoài có tên dài nhiều thành phần mà giấy tờ Việt Nam chỉ ghi một phần. Khi khai tên cha trên giấy khai sinh của con, hãy ghi đầy đủ đúng như hộ chiếu, không rút gọn cho vừa ô.
Ba kiểu đặt tên hay được chọn
Không có cách đúng duy nhất. Bảng dưới so sánh ba kiểu các gia đình đa quốc tịch hay dùng, kèm điểm lợi và chỗ phải để ý. Tên trong bảng chỉ để minh hoạ.
| Kiểu | Ví dụ minh hoạ | Điểm lợi | Chỗ phải để ý |
|---|---|---|---|
| Họ Việt, tên Việt, tên đệm Việt | Lê Minh Anh | Đơn giản ở Việt Nam, đúng khung luật | Có thể khó đọc ở nước kia; tên đệm dễ bị hiểu là middle name |
| Họ nước ngoài, tên Việt | họ của cha + Minh Anh | Con mang họ cha, có tên Việt để gọi ở nhà | Thứ tự họ – tên ở hai nước ngược nhau; soát kỹ khi khai |
| Tên dùng được ở cả hai thứ tiếng | An, Mai, Kim, Linh, Nam | Ai cũng đọc được, không cần tên gọi riêng | Nhiều tên ngắn trùng nghĩa khác ở ngôn ngữ kia; kiểm trước |
Nhiều nhà chọn thêm một tên gọi ở nhà theo tiếng bên kia, không ghi trên giấy tờ. Đây là cách mềm, không phải lo khớp giấy, và con vẫn có một cái tên gần với ông bà ở nước kia.
Dù chọn kiểu nào, hãy viết ra đúng một dạng chuẩn gồm họ, tên đệm, tên, có dấu và không dấu, dán lên tủ giấy tờ của gia đình. Mỗi lần làm giấy cho con, nhìn vào đó để khai cho thống nhất.
Các bước chốt tên trước ngày khai sinh
Thứ tự dưới đây giúp tránh chuyện đã có giấy khai sinh Việt Nam rồi mới biết nước kia không ghi được tên đó.
- Hỏi cơ quan đại diện nước bên kia về quy tắc họ, tên của họ: bộ chữ, họ kép, thứ tự, số thành phần, có cần chọn họ trước không.
- Hai người liệt kê vài phương án, mỗi phương án viết đủ dạng có dấu, không dấu, theo thứ tự Việt Nam và theo thứ tự nước kia.
- Đọc to từng phương án theo cách người nước kia đọc; ông bà hai bên cùng nghe nếu muốn.
- Mang hai, ba phương án đến phường, xã hỏi cán bộ hộ tịch phương án nào được ghi nhận.
- Chốt một dạng chuẩn duy nhất và dùng nó cho mọi giấy: giấy chứng sinh, khai sinh, báo sinh ở nước kia, hộ chiếu.
Kiểm tên trên giấy chứng sinh ở bệnh viện ngay khi nhận. Giấy chứng sinh thường ghi tên mẹ và có khi ghi tên dự kiến của con; sai ở đây sẽ kéo theo sai ở giấy khai sinh.
Khi tên đã đăng ký mà cần sửa
Luật Hộ tịch 2014 có thủ tục thay đổi, cải chính hộ tịch. Cải chính là sửa thông tin bị ghi sai do lỗi của cán bộ hoặc người đi khai, có giấy tờ làm căn cứ. Thay đổi họ, tên thì chỉ làm được trong những trường hợp Bộ luật Dân sự 2015 cho phép, ví dụ theo yêu cầu của cha mẹ khi con còn nhỏ, khi xác định lại cha mẹ, hoặc để thống nhất với tên ở nước có quốc tịch.
Trường hợp gia đình đa quốc tịch hay gặp là tên trên giấy Việt Nam và giấy nước kia lệch nhau. Có hai hướng: sửa giấy Việt Nam cho khớp, hoặc sửa giấy nước kia. Hướng nào dễ hơn tuỳ luật hai nước; nhưng sửa càng sớm khi con còn nhỏ, càng ít giấy tờ phụ thuộc phải sửa theo.
Con từ đủ chín tuổi trở lên, việc thay đổi tên theo Bộ luật Dân sự 2015 phải có sự đồng ý của chính con. Đây là thêm một lý do để chốt tên cẩn thận từ đầu: cái tên là thứ con mang đi học, đi làm, và sửa nó về sau không chỉ là thủ tục mà còn là chuyện của chính đứa trẻ.
Câu hỏi thường gặp
Con mang họ của người cha nước ngoài thì có làm thẻ căn cước Việt Nam bình thường không?
Có. Con có quốc tịch Việt Nam được cấp số định danh và căn cước như mọi công dân, với họ tên đúng như trên giấy khai sinh. Họ nước ngoài viết bằng chữ cái Latinh vẫn được ghi; chỉ cần giữ thống nhất một cách viết trên mọi giấy.
Con có thể có tên Việt trên giấy Việt Nam và tên khác trên giấy nước kia không?
Về kỹ thuật một số trường hợp có xảy ra, nhưng đó là nguồn rắc rối lớn: mỗi lần xuất nhập cảnh, mở tài khoản, nhận bằng cấp đều phải chứng minh hai tên là một người. Nên cố gắng giữ một tên duy nhất, cùng chữ cái, cùng thứ tự.
Tên đệm Thị có nên dùng cho con gái lai không?
Đó là lựa chọn của gia đình. Cần biết rằng khi sang hệ thống nước ngoài, Thị thường bị xem là middle name và hiện trên nhiều giấy tờ, có khi khiến con phải giải thích. Nhiều gia đình chọn tên đệm khác hoặc không dùng tên đệm.
Đặt tên theo tên ông bà bên nước ngoài có được không?
Được, nếu cách viết đáp ứng khung luật nơi khai sinh và quy tắc của nước bên kia. Ở Việt Nam, đặt tên con trùng tên ông bà không bị cấm như một số tập quán kiêng huý; vấn đề chỉ là ngôn ngữ và cách viết, hỏi cán bộ hộ tịch trước khi chốt.
Có nên viết dấu tiếng Việt khi khai báo sinh ở đại sứ quán nước kia không?
Nên hỏi đại sứ quán họ nhận dấu tiếng Việt không. Nếu hệ thống nước đó không có dấu, hãy chủ động đưa dạng không dấu đã chốt, thay vì để người nhập liệu tự bỏ dấu và viết Đ theo một cách khác với hộ chiếu Việt Nam của con.