NgoaiKieu.comNgoại Kiều
Thị thực, tạm trú: phía người bảo lãnh

Người lao động nước ngoài nghỉ việc: doanh nghiệp xử lý thẻ tạm trú và giấy phép

Khi người nước ngoài do mình bảo lãnh nghỉ việc, chuyển công ty hay về nước: giấy phép lao động, thẻ tạm trú, thân nhân đi kèm, thông báo cơ quan và các việc tài chính.

A foreign man carrying a cardboard box down a sunlit staircase of an office building while a Vietnamese coworker holds the door, viewed from the landing below, warm tones

Khi người lao động nước ngoài nghỉ việc, giấy phép lao động hết hiệu lực theo Bộ luật Lao động 2019, và thẻ tạm trú, thị thực do doanh nghiệp bảo lãnh mất căn cứ. Doanh nghiệp phải thông báo cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, xử lý giấy phép lao động với cơ quan quản lý lao động cấp tỉnh, và giúp người đó chuyển sang bên bảo lãnh mới hoặc thu xếp xuất cảnh đúng hạn.

Đây là giai đoạn doanh nghiệp dễ bỏ quên nhất: quan hệ lao động đã kết thúc, phòng nhân sự lo người mới, còn thẻ tạm trú của người cũ vẫn mang tên doanh nghiệp. Bài này đi qua ba tình huống thường gặp, nghỉ để về nước, nghỉ để sang công ty khác ở Việt Nam, và nghỉ đột ngột không báo, kèm những việc cần làm cho thân nhân đi theo.

Vì sao nghỉ việc lại là chuyện của bên bảo lãnh

Thẻ tạm trú của người lao động được cấp vì doanh nghiệp đứng tên bảo lãnh cho một mục đích cụ thể: làm việc tại doanh nghiệp đó. Khi hợp đồng chấm dứt, mục đích ấy không còn. Bộ luật Lao động 2019 quy định giấy phép lao động hết hiệu lực khi hợp đồng lao động chấm dứt; còn với thẻ tạm trú, căn cứ cấp thẻ không còn, dù tấm thẻ trên tay vẫn ghi thời hạn dài.

Nếu doanh nghiệp im lặng, hệ thống vẫn ghi nhận doanh nghiệp đang bảo lãnh một người mà mình đã không còn quản lý. Người đó có thể ở lại làm việc ở nơi khác không phép, có thể gặp chuyện, và mọi câu hỏi của cơ quan sẽ quay về bên bảo lãnh cũ.

Ngược lại, người lao động cũng chịu thiệt nếu doanh nghiệp không làm đủ. Họ cần một thông tin rõ ràng: được ở đến khi nào, cần làm gì để chuyển sang nơi mới, giấy tờ nào doanh nghiệp đã gửi đi. Không có thông tin ấy, họ dễ rơi vào quá hạn mà không biết.

Ba tình huống và việc của doanh nghiệp

Mỗi tình huống có trọng tâm khác nhau. Bảng dưới gom việc chính; trình tự chi tiết và mẫu văn bản theo hướng dẫn hiện hành của từng cơ quan.

Tình huốngViệc với giấy phép lao độngViệc với cư trúLưu ý
Nghỉ để về nướcLàm thủ tục với cơ quan quản lý lao động cấp tỉnh theo hướng dẫn khi giấy phép hết hiệu lựcThông báo cơ quan xuất nhập cảnh; người lao động xuất cảnh trong thời gian phù hợpGiúp quyết toán thuế, bảo hiểm trước ngày bay
Nghỉ để sang công ty khác ở Việt NamCông ty mới làm giấy phép lao động mới cho vị trí mớiCông ty mới đứng tên bảo lãnh, đề nghị thị thực, thẻ mới; công ty cũ thông báo kết thúc bảo lãnhHai công ty nên phối hợp mốc thời gian để không có khoảng trống
Nghỉ đột ngột, không liên lạc đượcXử lý như chấm dứt hợp đồng theo luật lao độngThông báo ngay cơ quan xuất nhập cảnh về việc người được bảo lãnh không còn làm việc và không rõ nơi ởLưu bằng chứng đã cố liên lạc
Doanh nghiệp chấm dứt hợp đồngNhư trên, tuân thủ thủ tục chấm dứt của luật lao độngThông báo, hướng dẫn người lao động về hạn ở lạiCho người lao động thời gian thu xếp hợp lý

Điểm chung của cả bốn dòng là doanh nghiệp không để thẻ tạm trú của người cũ tiếp tục treo dưới tên mình mà không ai biết.

Danh sách việc trong tuần cuối của người lao động

Doanh nghiệp có thể dùng danh sách sau khi một người nước ngoài thông báo nghỉ. Việc nào không áp dụng thì bỏ qua:

  1. Xác định ngày làm việc cuối cùng và ngày dự kiến người đó rời Việt Nam hoặc bắt đầu ở nơi mới.
  2. Hỏi người lao động hướng đi tiếp theo: về nước, sang công ty khác ở Việt Nam, hay ở lại theo diện khác như thân nhân của công dân Việt Nam.
  3. Thông báo cơ quan quản lý xuất nhập cảnh nơi đã nộp hồ sơ bảo lãnh, theo cách được hướng dẫn: văn bản, nộp lại thẻ hay đề nghị huỷ giá trị thẻ.
  4. Làm thủ tục liên quan giấy phép lao động với cơ quan quản lý lao động cấp tỉnh.
  5. Chốt lương, các khoản đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nếu người đó thuộc diện, và hỗ trợ quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo nguyên tắc của luật thuế trước khi người đó xuất cảnh.
  6. Kiểm tra thân nhân đi kèm: thẻ của họ cũng mất căn cứ, cần xử lý cùng lúc.
  7. Cập nhật bảng theo dõi hạn, đóng hồ sơ, lưu bản sao các văn bản đã gửi.

Bước 3 thường bị hiểu là "thu thẻ của người lao động". Doanh nghiệp không giữ giấy tờ cá nhân; việc nộp lại hay huỷ giá trị thẻ làm theo hướng dẫn của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, có sự đồng ý và phối hợp của người lao động.

Chuyển sang công ty khác: tránh khoảng trống giữa hai bên bảo lãnh

Tình huống người lao động nước ngoài chuyển việc ngay trong Việt Nam ngày càng phổ biến. Khó khăn nằm ở khoảng giữa: hợp đồng cũ đã chấm dứt, giấy phép lao động mới chưa xong, thẻ tạm trú cũ đã mất căn cứ. Nếu công ty mới chưa kịp làm gì, người lao động có thể rơi vào tình trạng không có bên bảo lãnh, không có giấy phép.

Cách tốt nhất là hai bên thống nhất mốc thời gian. Công ty mới bắt đầu thủ tục giấy phép lao động từ khi chốt tuyển dụng; công ty cũ đồng ý một ngày nghỉ việc đủ để công ty mới có kết quả, hoặc ít nhất đủ để người đó có hướng xử lý cư trú hợp lệ. Khi giấy phép mới có, công ty mới đề nghị thị thực, thẻ theo tên mình; công ty cũ thông báo kết thúc bảo lãnh.

Người lao động không được bắt đầu làm việc ở công ty mới khi chưa có giấy phép lao động tương ứng, kể cả "làm thử vài tuần". Đây là điểm công ty mới hay bị hỏi khi nộp hồ sơ thẻ, vì ngày bắt đầu làm việc trên hợp đồng sẽ được so với ngày cấp giấy phép.

Thân nhân đi kèm: đừng để họ bị bỏ quên

Thẻ thân nhân phụ thuộc thẻ chính. Vợ, chồng, con có thẻ tạm trú theo người lao động; khi người lao động nghỉ việc, căn cứ của họ cũng mất. Doanh nghiệp thông báo cho cả gia đình, không chỉ người lao động.

Con đang đi học giữa năm. Gia đình có con học ở Việt Nam thường muốn ở lại đến hết năm học. Việc này chỉ được nếu có căn cứ cư trú mới, ví dụ người lao động đã có việc ở công ty khác. Doanh nghiệp nên nói rõ để gia đình không tính kế hoạch dựa trên tấm thẻ đã mất căn cứ.

Vợ hoặc chồng là người Việt. Nếu người lao động nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam, họ có thể chuyển sang diện thân nhân do vợ hoặc chồng bảo lãnh. Doanh nghiệp cũ vẫn thông báo kết thúc bảo lãnh của mình; thủ tục diện mới do người vợ hoặc chồng người Việt đứng tên.

Khi người lao động bỏ đi không báo

Đây là tình huống khó chịu nhất cho bên bảo lãnh. Người lao động không đến làm, không trả lời tin nhắn, chủ nhà báo đã trả phòng. Doanh nghiệp không biết người đó đã về nước hay vẫn ở Việt Nam làm việc chỗ khác.

Việc cần làm là ghi lại các lần liên lạc, xử lý hợp đồng theo đúng thủ tục của luật lao động, và thông báo sớm cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh rằng người được bảo lãnh không còn làm việc và không rõ nơi ở. Thông báo sớm giúp doanh nghiệp tách mình khỏi những gì người đó làm sau thời điểm ấy.

Nếu có dấu hiệu người đó gặp nạn, mất tích thật sự, doanh nghiệp nên trình báo công an nơi người đó cư trú và liên hệ cơ quan đại diện nước họ. Khi có chuyện khẩn cấp có thể gọi 113. Trường hợp chỉ là bỏ việc, thông báo cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và cơ quan quản lý lao động là đủ phần của doanh nghiệp.

Những việc ngoài giấy tờ cư trú nên làm xong trước ngày cuối

Giấy xác nhận làm việc. Người lao động thường cần giấy xác nhận thời gian và vị trí làm việc cho công ty mới hoặc cho hồ sơ ở nước họ. Cấp sớm, ký bởi người có thẩm quyền, ghi đúng chức danh như trong giấy phép lao động.

Bảo hiểm và thuế. Những khoản đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, nếu người đó thuộc diện, và nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân khi rời Việt Nam nên được giải thích rõ theo nguyên tắc chung của luật, phần việc nào doanh nghiệp làm, phần nào người lao động tự làm.

Tài sản, thiết bị, tài khoản. Thu lại thiết bị, khoá tài khoản nội bộ, bàn giao công việc như mọi nhân viên khác. Riêng hộ chiếu, thẻ tạm trú và giấy tờ cá nhân thì không thuộc diện "thu lại".

Nhà ở do doanh nghiệp thuê. Nếu doanh nghiệp đứng tên thuê nhà cho người lao động, cần báo chủ nhà về ngày trả nhà để chủ nhà khai báo kết thúc tạm trú, và xử lý tiền cọc theo hợp đồng.

Ví dụ giả định: một nhà quản lý sang đối thủ

Ví dụ giả định: một nhà quản lý bán hàng nước ngoài làm ở một công ty thực phẩm tại Hà Nội báo nghỉ sau ba năm, sang một công ty cùng ngành. Quan hệ hai công ty không thân thiện, nên không ai muốn ngồi lại phối hợp mốc thời gian.

Công ty cũ làm đúng phần mình: nhận đơn nghỉ, chốt ngày làm cuối theo hợp đồng, thông báo cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và cơ quan quản lý lao động, gửi cho người lao động bản sao các văn bản đã nộp. Công ty mới tự lo phần của họ: giấy phép lao động mới, đề nghị thị thực, thẻ mới. Khoảng trống giữa hai bên là chuyện của người lao động và công ty mới; công ty cũ chỉ cần chắc rằng mình không còn đứng tên một quan hệ đã chấm dứt.

Điều công ty cũ không làm: giữ hộ chiếu hay thẻ để gây khó dễ, hay chậm thông báo để "giữ chân". Những việc ấy không ngăn được người đi, chỉ để lại rủi ro trên hồ sơ của chính công ty.

Sau vụ việc, công ty bổ sung vào quy trình nghỉ việc một dòng riêng cho người nước ngoài: người phụ trách hồ sơ cư trú phải ký xác nhận đã thông báo cơ quan, giống như bộ phận kế toán ký xác nhận đã chốt lương.

Câu hỏi thường gặp

Người lao động nghỉ việc thì được ở lại Việt Nam bao lâu?

Không có một con số chung áp dụng cho mọi trường hợp. Khi căn cứ bảo lãnh không còn, người đó cần xuất cảnh hoặc có căn cứ cư trú mới trong thời gian phù hợp theo hướng dẫn của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Doanh nghiệp nên hỏi rõ khi thông báo và chuyển thông tin cho người lao động.

Doanh nghiệp có phải trả vé máy bay về nước cho người lao động không?

Việc này phụ thuộc vào hợp đồng lao động và thoả thuận giữa hai bên, không phải nghĩa vụ chung cho mọi trường hợp. Nhiều hợp đồng với chuyên gia có điều khoản về chi phí hồi hương; doanh nghiệp nên đọc lại hợp đồng khi người lao động nghỉ.

Thẻ tạm trú còn hạn hai năm có dùng tiếp được khi chuyển sang công ty mới không?

Không. Thẻ gắn với bên bảo lãnh và mục đích cũ. Công ty mới phải có giấy phép lao động mới và đứng tên đề nghị thị thực, thẻ của mình. Dùng tiếp thẻ cũ để làm việc ở công ty mới là hoạt động không đúng mục đích.

Người lao động nghỉ việc nhưng vẫn ở lại vì sắp kết hôn với người Việt thì sao?

Doanh nghiệp cũ vẫn thông báo kết thúc bảo lãnh. Sau khi đăng ký kết hôn, người vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam có thể bảo lãnh theo diện thân nhân. Trong khoảng giữa, người đó cần một căn cứ cư trú hợp lệ; nên hỏi cơ quan quản lý xuất nhập cảnh sớm.

Doanh nghiệp có thể xác nhận cho người lao động đã nghỉ để họ làm thủ tục ở nơi khác không?

Có thể cấp giấy xác nhận quá trình làm việc, ngày chấm dứt hợp đồng, theo đề nghị của người lao động. Giấy này hữu ích cho cả công ty mới lẫn người lao động khi làm hồ sơ giấy phép và cư trú mới.

Quên thông báo đã lâu rồi bây giờ làm gì?

Thông báo ngay khi phát hiện, nêu rõ ngày người đó thực tế đã nghỉ, kèm hồ sơ chấm dứt hợp đồng. Thông báo muộn có thể khiến doanh nghiệp phải giải trình, nhưng tiếp tục im lặng còn tệ hơn, nhất là khi người đó có vi phạm sau ngày nghỉ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.