NgoaiKieu.comNgoại Kiều
Ngoại kiều trong lịch sử Việt Nam

Yersin, Colani, Parmentier: nhà khoa học nước ngoài từng sống, làm việc ở Việt Nam

Alexandre Yersin ở Nha Trang, Madeleine Colani với văn hóa Hòa Bình, Henri Parmentier với di tích Chăm: những ngoại kiều để lại tri thức mà người Việt dùng đến hôm nay.

Macro view of an old brass microscope beside empty glass vials on a weathered wooden lab bench by a sea-facing window, muted teal tones

Cuối thế kỷ 19 – nửa đầu thế kỷ 20, một số nhà khoa học nước ngoài đã sống lâu năm ở Việt Nam và để lại tri thức người Việt còn dùng đến hôm nay: bác sĩ Alexandre Yersin lập viện nghiên cứu ở Nha Trang và gắn bó với vùng này đến cuối đời; nhà khảo cổ Madeleine Colani nghiên cứu các hang động ở Hòa Bình, góp phần xác lập khái niệm văn hóa Hòa Bình; kiến trúc sư – nhà khảo cổ Henri Parmentier khảo sát, thống kê di tích Chăm và góp phần lập bảo tàng điêu khắc Chăm ở Đà Nẵng.

Họ là một kiểu ngoại kiều đặc biệt: không buôn bán, không làm việc hành chính, mà đến để nghiên cứu, chữa bệnh, rồi ở lại vì gắn bó với đất và người. Bài này kể ngắn gọn về từng người, những gì họ làm được, cách người Việt hôm nay nhìn nhận họ, và những nơi còn lưu dấu ấn của họ.

Alexandre Yersin: người bác sĩ chọn ở lại Nha Trang

Alexandre Yersin sinh năm 1863 ở Thụy Sĩ, học y ở Thụy Sĩ, Đức và Pháp, làm việc tại Viện Pasteur Paris trước khi sang Đông Dương làm bác sĩ trên tàu biển đầu thập niên 1890. Ông sớm chọn Nha Trang làm nơi định cư, mê thám hiểm và đi khảo sát nhiều vùng cao nguyên. Chuyến đi lên cao nguyên Lang Biang năm 1893 của ông thường được kể là bước khởi đầu cho việc hình thành Đà Lạt.

Năm 1894, trong đợt dịch hạch ở Hồng Kông, Yersin là một trong những người đầu tiên phân lập được vi khuẩn gây bệnh dịch hạch; vi khuẩn này về sau được đặt tên Yersinia pestis theo tên ông. Sau đó, ông lập phòng thí nghiệm ở Nha Trang, tiền thân của Viện Pasteur Nha Trang, nghiên cứu huyết thanh, vắc-xin cho người và gia súc.

Ngoài y học, Yersin thử nghiệm trồng nhiều loại cây mới ở vùng Suối Dầu và Hòn Bà gần Nha Trang, trong đó có cây cao su và cây canh-ki-na lấy vỏ làm thuốc chữa sốt rét. Ông sống giản dị, được người dân địa phương gọi thân mật là "ông Năm". Ông mất năm 1943 ở Nha Trang và được an táng ở Suối Dầu theo ý nguyện. Đến nay mộ ông vẫn được người dân địa phương chăm sóc, nhiều đường phố, trường học mang tên ông.

Madeleine Colani: người đặt nền cho văn hóa Hòa Bình

Madeleine Colani là nhà thực vật học, địa chất học và khảo cổ học người Pháp, sang Đông Dương từ đầu thế kỷ 20 và làm việc nhiều năm ở Sở Địa chất. Từ cuối thập niên 1920, bà khảo sát, khai quật hàng loạt hang động, mái đá ở vùng núi Hòa Bình, tìm thấy công cụ đá ghè đẽo một mặt, xương động vật, dấu vết cư trú của con người thời đá.

Trên cơ sở những phát hiện này, tại Hội nghị các nhà tiền sử học Viễn Đông họp ở Hà Nội năm 1932, khái niệm "văn hóa Hòa Bình" được chính thức công nhận. Đây là lần đầu tiên tên một địa danh Việt Nam được dùng để gọi một nền văn hóa tiền sử, và cái tên ấy đến nay vẫn được giới khảo cổ khu vực Đông Nam Á sử dụng. Các nghiên cứu sau này của các nhà khảo cổ Việt Nam đã mở rộng, điều chỉnh nhiều nhận định ban đầu, nhưng khung khái niệm vẫn bắt nguồn từ công việc của bà.

Colani còn nghiên cứu các cánh đồng chum đá ở Lào, một công trình vẫn được trích dẫn rộng rãi. Sự nghiệp của bà là một ví dụ hiếm về một phụ nữ làm khoa học thực địa ở vùng núi trong thời kỳ đó.

Phương pháp của Colani được đánh giá là cẩn thận với thời đó: bà ghi chép tầng đất, vẽ mặt cắt, phân loại công cụ theo hình dáng và kỹ thuật chế tác. Chính nhờ những ghi chép ấy mà các nhà khảo cổ đời sau có thể quay lại di chỉ, so sánh, và điều chỉnh những nhận định về niên đại khi có phương pháp định tuổi mới.

Henri Parmentier và di sản Chăm

Henri Parmentier là kiến trúc sư, nhà khảo cổ người Pháp, làm việc nhiều thập niên cho một viện nghiên cứu về Viễn Đông có trụ sở ở Hà Nội. Ông dành phần lớn sự nghiệp cho kiến trúc và điêu khắc Chăm, đi khảo sát, đo vẽ, chụp ảnh hầu hết các tháp Chăm ở miền Trung, xuất bản bộ thống kê mô tả di tích Chăm đầu thế kỷ 20 mà giới nghiên cứu vẫn dùng.

Ông cũng là người góp phần quan trọng vào việc gom các tác phẩm điêu khắc Chăm vào một nơi để bảo quản. Bảo tàng điêu khắc Chăm ở Đà Nẵng, khánh thành năm 1919, là kết quả của công việc này. Hôm nay đây là nơi lưu giữ bộ sưu tập điêu khắc Chăm lớn và giá trị bậc nhất, nhiều hiện vật được công nhận là bảo vật quốc gia.

Ở Mỹ Sơn, các bản vẽ và ảnh chụp đầu thế kỷ 20 của Parmentier và đồng nghiệp là tư liệu quý giúp phục dựng những đền tháp bị hư hại về sau. Một di sản trí thức của ngoại kiều, qua đó, góp phần cứu một di sản vật chất của người Việt Nam.

Cần nói thêm rằng việc đưa tượng về bảo tàng thời đó cũng có mặt trái: tượng rời khỏi đền tháp gốc, mất đi bối cảnh ban đầu. Giới bảo tàng học ngày nay cân nhắc kỹ hơn giữa bảo quản tại chỗ và đưa về bảo tàng, nhưng vẫn ghi nhận rằng nhiều hiện vật có lẽ đã thất lạc nếu không được gom về kịp.

Vì sao họ ở lại lâu: điều kiện làm việc và sự gắn bó

Phần lớn ngoại kiều thời đó đến theo hợp đồng vài năm rồi về. Những nhà khoa học kể trên khác ở chỗ họ ở lại hàng chục năm, có người đến cuối đời. Một phần lý do là đề tài nghiên cứu: dịch bệnh nhiệt đới, hang động tiền sử, đền tháp Chăm là những thứ chỉ có thể nghiên cứu tại chỗ, và mỗi lần thực địa lại mở ra câu hỏi mới. Một nhà khảo cổ không thể nghiên cứu văn hóa Hòa Bình từ Paris.

Lý do thứ hai là quan hệ với người địa phương. Công việc thực địa phụ thuộc vào người dẫn đường, người khuân vác, thợ đào, phiên dịch, đồng nghiệp Việt. Nhiều cộng sự người Việt được ghi tên trong báo cáo khai quật, trong sổ sách phòng thí nghiệm; một số về sau trở thành những nhà khoa học Việt Nam đầu tiên trong ngành của mình. Sự gắn bó ấy là hai chiều: nhà khoa học nước ngoài cần người Việt để làm việc, và người Việt học được phương pháp khoa học hiện đại qua làm việc cùng họ.

Lý do thứ ba mang tính cá nhân: một số người đơn giản là yêu nơi mình sống. Yersin nhiều lần có cơ hội về châu Âu làm việc ở những vị trí danh giá nhưng chọn ở lại Nha Trang. Câu chuyện ấy giải thích vì sao ông được nhớ đến như một người hàng xóm hơn là một người nước ngoài.

Những gương mặt khác nên biết

Bên cạnh ba người trên, còn nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài để lại dấu ấn trong tri thức về Việt Nam. Một số tên thường được nhắc:

  • Albert Calmette — bác sĩ, lập viện nghiên cứu theo mô hình Pasteur ở Sài Gòn năm 1891, nghiên cứu nọc rắn và vắc-xin.
  • Léopold Cadière — sống ở Huế nhiều thập niên, nghiên cứu ngôn ngữ, phong tục, văn hóa dân gian vùng Huế; là người sáng lập hội nghiên cứu cố đô Huế và tập san về Huế xưa.
  • Louis Malleret — khai quật khu di chỉ Óc Eo năm 1944, công bố những phát hiện đầu tiên về thương cảng cổ ở Nam Bộ.
  • Olov Janse — nhà khảo cổ người Thụy Điển, khai quật di chỉ Đông Sơn ở Thanh Hóa trong thập niên 1930.
  • Auguste Chevalier — nhà thực vật học, khảo sát hệ thực vật Đông Dương, nghiên cứu cây trồng nông nghiệp và cây rừng.

Danh sách này không đầy đủ. Điều đáng chú ý là các công trình của họ đều được các nhà khoa học Việt Nam kế thừa, kiểm chứng và phát triển trong nửa sau thế kỷ 20, nhiều nhận định được điều chỉnh khi có thêm bằng chứng mới.

Người Việt hôm nay nhìn nhận họ thế nào

Ghi nhận đóng góp khoa học. Tên Yersin được đặt cho đường phố, trường học, công viên ở nhiều thành phố; mộ ông ở Suối Dầu là di tích được bảo vệ. Văn hóa Hòa Bình gắn với tên Colani trong mọi giáo trình khảo cổ. Bảo tàng Chăm được biết đến như công trình gắn với Parmentier.

Kế thừa có phản biện. Giới nghiên cứu Việt Nam không tiếp nhận nguyên vẹn mà kiểm chứng lại bằng khai quật, phân tích mới. Ví dụ, niên đại và phạm vi của văn hóa Hòa Bình đã được điều chỉnh nhiều nhờ các phương pháp định tuổi hiện đại.

Tách người khỏi bối cảnh chính trị. Nhìn nhận một nhà khoa học theo công trình của họ, không gán cho họ trách nhiệm hay công trạng của cả một giai đoạn lịch sử. Đó là cách đọc lịch sử ngoại kiều một cách công bằng.

Coi đó là di sản chung. Tri thức về dịch bệnh, về tiền sử, về di tích Chăm hôm nay là tài sản của Việt Nam và của thế giới, không còn thuộc riêng về một quốc gia nào.

Đi tìm dấu ấn của họ hôm nay

Nếu bạn muốn dẫn bạn bè, đồng nghiệp người nước ngoài hoặc con cái đi tìm hiểu, có thể bắt đầu từ những nơi sau. Giờ mở cửa và quy định tham quan nên kiểm trước với đơn vị quản lý.

Nhân vậtNơi gắn bóCó thể xem gì
Alexandre YersinNha Trang, Suối Dầu (Khánh Hòa); Đà Lạt (Lâm Đồng)Khu lưu niệm trong viện nghiên cứu ở Nha Trang, mộ ở Suối Dầu, các công trình mang tên ông
Madeleine ColaniVùng núi Hòa Bình (nay thuộc Phú Thọ)Hiện vật văn hóa Hòa Bình trong các bảo tàng lịch sử, một số hang động di chỉ
Henri ParmentierĐà Nẵng, Mỹ Sơn (Đà Nẵng)Bảo tàng điêu khắc Chăm, khu đền tháp Mỹ Sơn
Louis MalleretÓc Eo (An Giang)Khu di tích Óc Eo – Ba Thê, nhà trưng bày hiện vật

Những chuyến đi này là dịp tốt để giải thích cho người nước ngoài rằng mối quan hệ giữa Việt Nam và thế giới không chỉ có buôn bán hay chính trị, mà còn có cả những con người đến vì tò mò khoa học và ở lại vì yêu một vùng đất.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao Yersin được người Việt quý trọng?

Vì ông dành phần lớn cuộc đời cho y học và nông nghiệp ở Nha Trang, sống giản dị, gần gũi với người dân, và chọn được an táng ở Suối Dầu. Công trình về bệnh dịch hạch và viện nghiên cứu ông lập vẫn có ý nghĩa với y học Việt Nam.

Văn hóa Hòa Bình là gì?

Văn hóa Hòa Bình là một nền văn hóa thời đá ở Đông Nam Á, đặc trưng bởi công cụ đá ghè đẽo một mặt và đời sống săn bắt, hái lượm trong hang động, mái đá. Tên gọi lấy từ vùng Hòa Bình, nơi Madeleine Colani nghiên cứu, được công nhận tại hội nghị ở Hà Nội năm 1932.

Hòa Bình bây giờ thuộc tỉnh nào?

Từ ngày 1/7/2025, sau khi sắp xếp còn 34 tỉnh, thành, tỉnh Hòa Bình hợp nhất cùng Vĩnh Phúc vào tỉnh Phú Thọ. Tên gọi văn hóa Hòa Bình trong khảo cổ học không thay đổi vì đó là thuật ngữ khoa học quốc tế.

Bảo tàng điêu khắc Chăm có gì đặc biệt?

Đây là nơi lưu giữ bộ sưu tập điêu khắc Chăm lớn, gồm tượng, phù điêu, bệ thờ từ nhiều thế kỷ, sắp xếp theo các phong cách và địa điểm phát hiện. Nhiều hiện vật đã được công nhận là bảo vật quốc gia.

Có nhà khoa học nước ngoài nào nghiên cứu về Việt Nam hôm nay không?

Có rất nhiều, trong khảo cổ, lịch sử, ngôn ngữ, sinh học, y học. Họ thường hợp tác với các viện, trường của Việt Nam theo các dự án chung và theo quy định về hợp tác nghiên cứu khoa học với nước ngoài.

Có thể đọc công trình của các nhà khoa học này ở đâu?

Nhiều công trình gốc bằng tiếng Pháp được lưu ở các thư viện lớn và viện nghiên cứu ở Việt Nam và Pháp; một số đã được dịch sang tiếng Việt. Các giáo trình khảo cổ học, lịch sử y học thường tóm tắt và dẫn nguồn đến những công trình này.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.