Vợ chồng có một bên là người nước ngoài có hai lựa chọn về tài sản theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014: để luật quyết định (chế độ tài sản theo luật định) hoặc lập thoả thuận về chế độ tài sản trước khi đăng ký kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Điểm riêng của gia đình đa quốc tịch là người nước ngoài bị hạn chế quyền sử dụng đất ở Việt Nam, nên nhà đất thường chỉ người Việt đứng tên, trong khi tiền mua có thể là tiền chung hoặc tiền của bên nước ngoài.
Bài này trình bày các nguyên lý để hai người nói chuyện với nhau từ sớm, chứ không phải lời khuyên cho một vụ việc cụ thể. Khi tài sản lớn hoặc ở hai nước, nên có luật sư ở cả hai nơi.
Chế độ tài sản theo luật định: mặc định nếu không thoả thuận
Nếu hai người không lập thoả thuận trước hôn nhân, chế độ tài sản theo luật định được áp dụng. Tài sản chung gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được thừa kế chung hoặc tặng cho chung, và tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Tài sản riêng gồm tài sản mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng, đồ dùng tư trang cá nhân. Một điểm hay bị hiểu sai: hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân, như tiền cho thuê căn nhà riêng, theo luật định lại là tài sản chung.
Luật còn đặt một quy tắc chứng minh quan trọng: tài sản đang có tranh chấp mà không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng thì được coi là tài sản chung. Với gia đình có một bên mang tiền từ nước ngoài về, việc giữ chứng từ chuyển tiền, hợp đồng, sổ tiết kiệm trước hôn nhân là cách duy nhất để chứng minh phần nào là riêng.
Chế độ luật định hợp với nhiều cặp vì đơn giản, không cần làm gì. Nhưng nó không tính trước những tình huống riêng của gia đình đa quốc tịch, như tài sản ở nước ngoài, quỹ hưu trí ở nước kia, doanh nghiệp một bên đã có từ trước.
Thoả thuận về chế độ tài sản trước hôn nhân
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cho phép vợ chồng chọn áp dụng chế độ tài sản theo thoả thuận. Thoả thuận phải được lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, và chế độ tài sản theo thoả thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn. Đã nhận giấy chứng nhận kết hôn rồi thì không lập kiểu thoả thuận này nữa; khi đó chỉ còn các cách như chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Nội dung thoả thuận thường gồm: tài sản nào là chung, tài sản nào là riêng; quyền và nghĩa vụ của mỗi bên với tài sản chung, tài sản riêng và các giao dịch liên quan; tài sản bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình; điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia khi chấm dứt chế độ tài sản. Vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung thoả thuận về sau theo đúng hình thức luật định.
Với gia đình đa quốc tịch, thoả thuận nên nói rõ về tài sản ở nước ngoài và cách xử lý nếu gia đình chuyển sang sống ở nước kia. Thoả thuận lập theo luật Việt Nam chưa chắc được nước kia công nhận đúng như vậy; có cặp lập thêm văn bản theo luật nước còn lại. Đây là lúc rất nên có luật sư hai nước cùng xem.
Thoả thuận cũng có giới hạn: không được vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, thừa kế và các quyền khác của cha mẹ, con và thành viên khác trong gia đình. Một thoả thuận tước hết quyền lợi của con có thể bị toà tuyên vô hiệu.
Nhà đất ở Việt Nam: vì sao thường chỉ người Việt đứng tên
Theo Luật Đất đai 2024, cá nhân nước ngoài không nhận quyền sử dụng đất ở theo cách công dân Việt Nam được nhận. Họ chỉ được sở hữu nhà ở trong một số dự án và trong giới hạn theo Luật Nhà ở 2023. Vì vậy khi vợ chồng mua một căn nhà riêng lẻ có đất, giấy chứng nhận thường chỉ ghi tên người Việt.
Điều này không có nghĩa nhà đất là tài sản riêng của người Việt. Nếu được mua trong thời kỳ hôn nhân bằng tiền chung, theo chế độ luật định đó vẫn có thể là tài sản chung về giá trị. Khi chia, bên nước ngoài thường được nhận phần giá trị bằng tiền thay vì nhận hiện vật. Ngược lại, nếu tiền mua là của riêng người nước ngoài, câu chuyện phức tạp hơn nhiều và rất dễ thành tranh chấp.
Người nước ngoài cũng hay được gợi ý nhờ một người Việt khác, như anh chị của vợ hoặc bạn bè, đứng tên hộ nhà đất. Đây là con đường rủi ro cao: về pháp lý, người đứng tên là chủ sở hữu, người bỏ tiền phải tự chứng minh quyền lợi nếu có tranh chấp, và thoả thuận né quy định về đối tượng được sở hữu có thể bị coi là vô hiệu. Không nên làm.
Một thói quen tốt cho mọi cặp: lưu đủ chứng từ tiền mua nhà đến từ đâu, chuyển từ tài khoản nào, ai trả bao nhiêu. Nếu có thoả thuận về phần mỗi người, lập thành văn bản có công chứng. Những giấy tờ này giúp cả hai bên, không chỉ bên nước ngoài, nếu chẳng may có chuyện.
Nợ chung và các giao dịch hằng ngày
Nợ vì nhu cầu thiết yếu của gia đình là nợ chung. Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vợ chồng cùng chịu trách nhiệm liên đới với giao dịch do một bên thực hiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, như ăn ở, học hành, khám chữa bệnh.
Giao dịch lớn với tài sản chung cần cả hai đồng ý. Định đoạt bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, tài sản đang là nguồn sống duy nhất của gia đình phải có thoả thuận bằng văn bản của cả hai. Người nước ngoài không đứng tên nhà nhưng nhà là tài sản chung thì vẫn cần chữ ký đồng ý của họ khi bán, thế chấp.
Tài khoản đứng tên một người. Tiền trong tài khoản đứng tên một bên vẫn có thể là tài sản chung nếu là thu nhập trong thời kỳ hôn nhân. Tên chủ tài khoản không quyết định ai sở hữu tiền.
Kinh doanh của một bên. Phần vốn góp, cổ phần mua trong thời kỳ hôn nhân bằng tiền chung có thể là tài sản chung dù chỉ một người đứng tên. Bên nước ngoài làm chủ doanh nghiệp ở Việt Nam nên tính trước điều này trong thoả thuận tài sản.
Nợ ở nước ngoài. Khoản vay của một bên ở nước kia trước hôn nhân là nợ riêng. Khoản vay trong thời kỳ hôn nhân thì tuỳ mục đích và luật áp dụng; nói rõ với nhau từ đầu tránh bất ngờ.
Ví dụ giả định: một căn nhà, hai cách hiểu
Ví dụ giả định: anh Mark mang quốc tịch nước ngoài, làm việc ở TP.HCM, kết hôn với chị Lan. Hai người không lập thoả thuận tài sản. Năm thứ ba sau cưới, họ mua một căn nhà phố ở Thủ Đức cũ; phần lớn tiền là khoản tiết kiệm anh Mark mang từ nước mình sang trước khi cưới, phần còn lại là tiền lương của cả hai. Giấy chứng nhận chỉ ghi tên chị Lan.
Anh Mark nghĩ căn nhà phần lớn là của mình vì tiền từ tài khoản riêng. Chị Lan nghĩ căn nhà là tài sản chung vì mua trong thời kỳ hôn nhân, đứng tên chị. Khi mọi chuyện êm đẹp, không ai nhắc. Nếu có tranh chấp, anh Mark phải chứng minh khoản tiền là tài sản riêng có trước hôn nhân và đã được dùng để mua nhà; không chứng minh được thì theo luật định, phần đó dễ bị coi là tài sản chung.
Hai người có thể tránh cách hiểu lệch này bằng một việc rất đơn giản lúc mua: lập văn bản có công chứng ghi rõ phần tiền riêng của anh Mark và ý chí của hai người về căn nhà, đồng thời giữ đủ chứng từ chuyển tiền. Văn bản ấy không làm thay đổi tên trên giấy chứng nhận, nhưng làm rõ điều hai người đã thống nhất.
Thừa kế khi một bên là người nước ngoài
Bộ luật Dân sự 2015 đặt nguyên tắc chọn luật cho thừa kế có yếu tố nước ngoài: thừa kế theo pháp luật của nước mà người để lại di sản có quốc tịch ngay trước khi chết; riêng việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản thì theo pháp luật của nước nơi có bất động sản. Nghĩa là nhà đất ở Việt Nam do luật Việt Nam điều chỉnh, dù người mất mang quốc tịch nào.
Người nước ngoài là vợ hoặc chồng được thừa kế phần di sản của người Việt như mọi người thừa kế. Nhưng với quyền sử dụng đất, người không thuộc đối tượng được nhận quyền sử dụng đất ở Việt Nam về nguyên lý không đứng tên được, mà được hưởng giá trị, thông qua việc chuyển nhượng hoặc tặng cho phần thừa kế theo quy định. Quy trình cụ thể nên hỏi tổ chức hành nghề công chứng và luật sư.
Lập di chúc là việc rất nên làm với gia đình đa quốc tịch, nhất là khi có con riêng, có tài sản ở hai nước. Di chúc lập ở Việt Nam theo đúng hình thức của Bộ luật Dân sự 2015, có người làm chứng hoặc công chứng, giúp người ở lại không phải đi qua quá trình xác định người thừa kế ở hai nước. Tài sản ở nước kia có thể cần một di chúc theo luật nước đó.
Danh sách việc nên làm theo từng giai đoạn
Không cần làm tất cả một lúc. Dưới đây là thứ tự các cặp hay thấy hữu ích.
- Trước khi đăng ký kết hôn: liệt kê tài sản riêng của mỗi người, kèm chứng từ; quyết định có lập thoả thuận tài sản không; nếu có thì công chứng trước ngày đăng ký.
- Khi mua nhà, góp vốn: lưu chứng từ nguồn tiền; nếu dùng tiền riêng của một bên, lập văn bản xác nhận có công chứng; không nhờ người ngoài đứng tên hộ.
- Khi có con: nói chuyện về di chúc và người giám hộ cho con nếu cả hai gặp chuyện.
- Khi định chuyển sang nước kia: hỏi luật sư ở đó về cách nước đó nhìn nhận tài sản chung, thoả thuận tài sản đã lập ở Việt Nam và nhà đất còn lại ở Việt Nam.
- Mỗi vài năm: xem lại thoả thuận và di chúc khi hoàn cảnh đổi, như sinh thêm con, mua thêm tài sản lớn, đổi nơi sống.
Nói chuyện tài sản không làm tình cảm nhạt đi. Phần lớn tranh chấp tài sản trong gia đình đa quốc tịch bắt đầu từ việc hai người hiểu khác nhau về một điều chưa từng nói ra.
Câu hỏi thường gặp
Đã đăng ký kết hôn rồi có lập thoả thuận tài sản được nữa không?
Không lập được thoả thuận về chế độ tài sản theo nghĩa của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vì luật đòi lập trước khi kết hôn. Nhưng vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, bằng văn bản có công chứng theo yêu cầu của luật, với điều kiện không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người khác.
Người nước ngoài có đứng tên chung giấy chứng nhận nhà đất với vợ hoặc chồng Việt được không?
Với quyền sử dụng đất ở thông thường thì về nguyên lý không, vì cá nhân nước ngoài không thuộc đối tượng được nhận quyền sử dụng đất như công dân. Với căn hộ trong dự án mà người nước ngoài được phép sở hữu theo Luật Nhà ở 2023, quy định riêng áp dụng; nên hỏi tổ chức hành nghề công chứng và cơ quan đăng ký đất đai.
Thoả thuận tài sản lập ở nước ngoài có dùng được ở Việt Nam không?
Có thể được xem xét nếu đáp ứng điều kiện về hình thức và nội dung, đã hợp pháp hoá và dịch, nhưng không phải lúc nào cũng được công nhận đúng như bản gốc, nhất là phần liên quan nhà đất ở Việt Nam. Nếu định sống ở Việt Nam, nên lập thêm theo luật Việt Nam.
Tiền lương bên nước ngoài gửi về nước kia nuôi cha mẹ có tính là tài sản chung không?
Thu nhập của mỗi bên trong thời kỳ hôn nhân theo chế độ luật định là tài sản chung, và việc dùng tài sản chung nên được hai người thống nhất. Hỗ trợ cha mẹ là chuyện bình thường; hai người nên nói rõ mức và cách hỗ trợ với nhau từ đầu để tránh hiểu lầm.
Có nên để người thân của bên Việt đứng tên căn nhà mua bằng tiền của bên nước ngoài không?
Không nên. Người đứng tên là chủ sở hữu trước pháp luật; người bỏ tiền phải tự chứng minh quyền lợi khi có tranh chấp, và thoả thuận nhằm né quy định về đối tượng được sở hữu có thể bị coi là vô hiệu. Hãy hỏi luật sư những cách hợp pháp phù hợp với hoàn cảnh.