Nhà đầu tư nước ngoài phải kiểm ba lớp ngành nghề: ngành cấm đầu tư kinh doanh (áp dụng cho mọi người), ngành nghề kinh doanh có điều kiện (cũng áp dụng cho mọi người), và danh mục ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường dành riêng cho nhà đầu tư nước ngoài. Lớp thứ ba lại chia hai: ngành chưa được tiếp cận, và ngành được tiếp cận có điều kiện về tỷ lệ sở hữu, hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động hoặc đối tác.
Điều kiện cụ thể cho từng ngành nằm rải rác ở luật chuyên ngành, cam kết khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007 và các hiệp định thương mại sau đó. Bài này giải thích cách các lớp chồng lên nhau, cách đọc một cam kết, và vì sao người Việt làm đối tác cần biết điều này trước khi bàn chuyện chia vốn.
Ba lớp ngành nghề chồng lên nhau
Lớp đầu tiên là ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, liệt kê trong Luật Đầu tư 2020: kinh doanh chất ma tuý, mua bán người, kinh doanh mẫu vật động thực vật hoang dã quý hiếm khai thác từ tự nhiên, và một số ngành khác. Lớp này giống nhau với nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Lớp thứ hai là danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đi kèm phụ lục của Luật Đầu tư 2020. Đây là những ngành mà ai làm cũng phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh, trật tự, sức khoẻ cộng đồng: kinh doanh dịch vụ lữ hành, giáo dục, khám chữa bệnh, vận tải, kinh doanh bất động sản. Điều kiện thường là giấy phép, chứng chỉ hành nghề, yêu cầu vốn pháp định hoặc cơ sở vật chất, do luật chuyên ngành quy định.
Lớp thứ ba chỉ áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài: danh mục ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường, do Chính phủ công bố theo Luật Đầu tư 2020. Một dự án của người nước ngoài có thể qua được lớp hai (đủ giấy phép chuyên ngành như người Việt) mà vẫn kẹt ở lớp ba, vì ngành đó chưa mở hoặc chỉ mở cho liên doanh.
Thứ tự kiểm hợp lý là đi từ lớp ba ngược lên: ngành có mở cho nhà đầu tư nước ngoài không, mở đến đâu; rồi mới tới giấy phép chuyên ngành. Nhiều người làm ngược, lo giấy phép con trước, đến khi nộp hồ sơ đầu tư mới biết đường đã đóng từ đầu.
Ngành chưa mở và ngành mở có điều kiện: hình dung qua ví dụ
Danh mục chính thức dài và có thể được cập nhật. Bảng dưới chỉ minh hoạ những ngành thường được nhắc để thấy kiểu điều kiện; khi làm thật phải tra danh mục và cam kết hiện hành theo mã ngành của dự án.
| Nhóm | Ví dụ thường được nhắc | Ý nghĩa với nhà đầu tư nước ngoài |
|---|---|---|
| Chưa được tiếp cận thị trường | Báo chí và thu thập tin tức; đánh bắt, khai thác hải sản; dịch vụ điều tra và an ninh | Không được đầu tư dưới mọi hình thức, kể cả góp vốn nhỏ |
| Có điều kiện về hình thức đầu tư | Dịch vụ quảng cáo theo cam kết WTO | Phải liên doanh hoặc hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam được phép kinh doanh ngành đó |
| Có điều kiện về tỷ lệ sở hữu | Một số dịch vụ viễn thông, vận tải | Chỉ được nắm đến một tỷ lệ vốn nhất định |
| Có điều kiện về phạm vi hoạt động | Một số dịch vụ phân phối, bán lẻ | Được làm nhưng giới hạn mặt hàng, hoặc phải xin thêm giấy phép riêng khi mở cơ sở bán lẻ |
| Có điều kiện về năng lực, đối tác | Một số dịch vụ giáo dục, y tế | Yêu cầu kinh nghiệm, đội ngũ, cơ sở vật chất cụ thể |
Ví dụ dịch vụ phân phối minh hoạ rõ "lớp thứ ba": một công ty có vốn nước ngoài muốn bán lẻ hàng tiêu dùng thường phải có thêm giấy phép kinh doanh hoạt động mua bán hàng hoá và giấy phép lập cơ sở bán lẻ từ cơ quan công thương, điều mà một hộ kinh doanh Việt mở tiệm tạp hoá không phải lo.
Mỗi dòng trong bảng đều có ngoại lệ và lộ trình. Một số ngành đã mở dần theo lộ trình cam kết, nên thông tin của năm năm trước có thể không còn đúng.
Đọc cam kết WTO và các hiệp định thương mại
Khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007, Việt Nam đưa ra biểu cam kết dịch vụ: với từng phân ngành, Việt Nam cho nhà đầu tư nước ngoài vào đến đâu, dưới hình thức nào, có lộ trình hay không. Biểu này phân loại dịch vụ theo hệ thống phân loại sản phẩm trung tâm của Liên Hợp Quốc (CPC), không theo hệ thống ngành kinh tế Việt Nam dùng khi đăng ký doanh nghiệp. Hai hệ thống không khớp hoàn toàn, nên việc "dịch" mã ngành của dự án sang mã cam kết là bước đầu tiên và dễ sai nhất.
Sau WTO, Việt Nam ký nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA). Một số hiệp định mở rộng hơn cam kết WTO cho nhà đầu tư đến từ nước thành viên. Vì vậy cùng một ngành, nhà đầu tư từ nước này có thể được đối xử khác nhà đầu tư nước kia; quốc tịch của nhà đầu tư, hoặc nơi thành lập của công ty mẹ, là dữ kiện cần ghi rõ ngay từ đầu.
Với ngành Việt Nam chưa cam kết, cơ quan đăng ký đầu tư thường xin ý kiến bộ quản lý ngành trước khi quyết định. Điều này không có nghĩa là bị từ chối, nhưng thời gian và kết quả khó đoán hơn. Ngành mới như một số dịch vụ số, dịch vụ kết hợp nhiều lĩnh vực, hay rơi vào vùng này.
Cách kiểm ngành nghề cho một dự án cụ thể
Dưới đây là trình tự mà người làm hồ sơ có kinh nghiệm thường đi. Phía Việt không cần tự làm hết, nhưng nên biết để hỏi đúng và xin được kết quả kiểm bằng văn bản.
- Mô tả bằng lời thật cụ thể dự án sẽ làm gì, bán cho ai, thu tiền thế nào; tránh câu chung chung như "kinh doanh thương mại dịch vụ".
- Gán mã ngành kinh tế Việt Nam cho từng hoạt động, rồi đối chiếu sang mã CPC trong biểu cam kết.
- Tra danh mục ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài bản hiện hành.
- Tra cam kết WTO và hiệp định thương mại áp dụng với quốc tịch của nhà đầu tư; áp dụng mức thuận lợi hơn nếu được phép.
- Tra luật chuyên ngành xem ngành có thuộc diện kinh doanh có điều kiện không, điều kiện gì, ai cấp phép.
- Với hoạt động mơ hồ, hỏi trước cơ quan đăng ký đầu tư hoặc bộ quản lý ngành bằng văn bản.
- Ghi kết quả kiểm vào thoả thuận giữa các bên, kèm phương án nếu một hoạt động không được chấp thuận.
Bước cuối thường bị bỏ qua. Nếu hai bên đã thống nhất rằng phần "phân phối" phải do công ty Việt đảm nhận vì nhà đầu tư nước ngoài chưa được làm, điều đó nên nằm trên giấy, kèm cách chia lợi ích, để không ai hiểu khác về sau.
Người Việt làm đối tác: cơ hội và giới hạn
Ngành bắt buộc liên doanh tạo cơ hội thật. Với ngành chỉ mở qua liên doanh, đối tác Việt có vị thế thương lượng thật, vì không có bạn thì dự án không đi được. Hãy dùng vị thế đó để đàm phán quyền quản trị rõ ràng, không chỉ phần trăm lợi nhuận.
Nhưng không được thành người che chắn. Liên doanh hợp pháp là khi phía Việt góp vốn thật, có quyền thật. Thoả thuận để người Việt đứng tên phần vốn bắt buộc trong khi người nước ngoài nắm toàn bộ bằng giấy tờ ngầm là cách lách điều kiện tiếp cận thị trường, có thể bị coi là giao dịch giả tạo, rủi ro dồn lên người đứng tên.
Giấy phép chuyên ngành của bạn là tài sản. Nếu công ty Việt đã có giấy phép trong ngành có điều kiện, khi đối tác nước ngoài góp vốn, giấy phép đó có còn giữ nguyên hay không phụ thuộc quy định chuyên ngành. Hỏi cơ quan cấp phép trước khi ký.
Ngành mở dần theo thời gian. Một thoả thuận liên doanh ký khi ngành còn hạn chế nên tính tới khả năng ngành được mở hoàn toàn sau này: khi đó bên nước ngoài có quyền mua lại phần của bạn không, theo giá nào.
Ngành nhỏ, quán nhỏ cũng phải kiểm
Người ta hay nghĩ danh mục hạn chế chỉ liên quan tới ngành lớn như viễn thông, ngân hàng. Thực tế nhiều ý tưởng kinh doanh nhỏ của người nước ngoài cũng chạm vào nó. Một người nước ngoài muốn mở trung tâm ngoại ngữ đi vào ngành giáo dục, có điều kiện về cơ sở vật chất và giấy phép riêng. Một người muốn tổ chức tour cho khách nước mình đi vào dịch vụ lữ hành, có điều kiện riêng với nhà đầu tư nước ngoài.
Một người muốn nhập hàng từ nước mình về bán trên mạng đi vào quyền xuất nhập khẩu và phân phối, cần giấy phép kinh doanh riêng cho hoạt động mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Một người làm nghề tự do như thiết kế, lập trình, dịch thuật nhận việc từ khách Việt cũng nên phân biệt giữa làm việc theo hợp đồng lao động, làm việc cho công ty nước ngoài từ xa, và lập công ty tại Việt Nam để cung cấp dịch vụ.
Với vợ hoặc chồng người Việt, câu hỏi hay gặp là liệu có thể để người Việt đăng ký kinh doanh còn người nước ngoài cùng làm. Đó là một câu hỏi riêng, liên quan đến hộ kinh doanh, giấy phép lao động và quyền sở hữu tài sản chung, được bàn ở bài khác trong chuyên mục.
Những hiểu lầm hay gặp về ngành nghề
"Đăng ký thật nhiều ngành cho thoải mái." Với doanh nghiệp nội, đăng ký nhiều mã ngành ít hệ quả. Với dự án của nhà đầu tư nước ngoài, mỗi mục tiêu đều phải được xem xét; thêm một ngành có điều kiện có thể làm cả hồ sơ chậm lại hoặc bị hỏi thêm. Chỉ nên đăng ký những gì thật sự định làm.
"Có công ty là bán được mọi thứ." Quyền xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối của doanh nghiệp có vốn nước ngoài là quyền riêng, phải đăng ký và có khi phải xin giấy phép. Một công ty sản xuất không tự động có quyền nhập hàng của bên thứ ba về bán.
"Bạn bè làm được thì mình cũng làm được." Cùng một ngành, nhà đầu tư khác quốc tịch có thể được đối xử khác, dự án ở địa bàn khác cũng có thể vướng điều kiện khác. Kinh nghiệm của người quen là gợi ý để hỏi, không phải căn cứ để ký.
"Danh mục năm ngoái vẫn đúng." Danh mục và lộ trình cam kết đổi theo thời gian; luật chuyên ngành cũng được sửa. Thông tin trên các trang tổng hợp cũ có thể đã lỗi thời. Tra bản hiện hành tại thời điểm nộp hồ sơ.
Câu hỏi thường gặp
Danh mục ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường tra ở đâu?
Danh mục do Chính phủ công bố kèm văn bản hướng dẫn Luật Đầu tư 2020 và đăng trên cổng thông tin của cơ quan quản lý đầu tư. Nên tra bản hợp nhất mới nhất, vì danh mục có thể được sửa đổi. Biểu cam kết WTO và các hiệp định thương mại tra trên cổng thông tin của Bộ Công Thương và cơ quan đàm phán.
Ngành không có trong danh mục hạn chế thì người nước ngoài được sở hữu 100% phải không?
Thông thường là được tiếp cận như nhà đầu tư trong nước, nhưng vẫn phải đáp ứng điều kiện của ngành nghề kinh doanh có điều kiện nếu thuộc diện. Ngoài ra còn quy định chuyên ngành và pháp luật chứng khoán với công ty đại chúng. Không có trong danh mục chưa có nghĩa là không có điều kiện nào.
Nhà đầu tư từ nước không phải thành viên WTO thì sao?
Trường hợp này hiếm. Nguyên tắc chung là cơ quan đăng ký đầu tư áp dụng điều kiện như với nhà đầu tư từ nước thành viên WTO, trừ khi pháp luật hoặc điều ước có quy định khác. Nên hỏi cơ quan đăng ký đầu tư trước khi chuẩn bị hồ sơ.
Công ty mẹ đặt ở nước thứ ba có được hưởng cam kết của nước đó không?
Thường cam kết áp dụng theo nơi thành lập của nhà đầu tư là tổ chức. Một số hiệp định có điều khoản loại trừ công ty vỏ không có hoạt động kinh doanh thực chất ở nước thành viên. Cơ quan đăng ký có thể hỏi về hoạt động thật của công ty mẹ.
Đang làm hồ sơ thì danh mục thay đổi, áp dụng bản nào?
Nguyên tắc chung là áp dụng quy định có hiệu lực tại thời điểm cơ quan nhà nước xem xét hồ sơ, trừ khi văn bản mới có điều khoản chuyển tiếp. Luật Đầu tư 2020 cũng có cơ chế bảo đảm đầu tư khi pháp luật thay đổi theo hướng bất lợi cho dự án đã cấp phép.
Người Việt nhận góp vốn trong ngành bắt buộc liên doanh có thể bán lại phần vốn cho bên nước ngoài sau này không?
Chỉ khi ngành đã được mở đến mức cho phép tỷ lệ sở hữu mới đó. Nếu ngành vẫn bắt buộc liên doanh với tỷ lệ cố định, việc chuyển nhượng làm vượt tỷ lệ sẽ không được chấp thuận. Điều khoản mua lại nên ghi điều kiện "khi pháp luật cho phép".